Canh tác chè hữu cơ ứng dụng sản phẩm vi sinh

Chè (hay trà, tên khoa học: Camellia sinensis) là loài cây mà lá và chồi được sử dụng để sản xuất trà.

Tại Việt Nam, cây chè xanh hay cây trà xanh có mặt từ rất sớm và được trồng nhiều tại các vùng núi trung du Bắc Bộ. Với tiềm năng kinh tế cao cây chè xanh ngày càng được trồng phổ biến hơn. Cây chè xanh thuộc họ Chè (Theaceae) – một họ thực vật có hoa.

Hiện nay, tại các tỉnh trung du Bắc Bộ có các vùng trồng chè chuyên canh như chè đặc sản hái tay Thái Nguyên, chè đen Phú Thọ, Yên Bái chuyên cung cấp cho khu vực Trung Đông. Quá trình canh tác thâm canh dẫn đến tình trạng chai hóa và kiệt chất lượng đất, giảm năng suất chè cũng như tình trạng bệnh hại ngày càng nhiều.

Từ đó người dân cũng như những nhà chức trách đã và đang tìm nhiều hướng giải quyết để cải thiện, cũng như tăng chất lượng của chè giúp đẩy giá thành lên cao hơn, tăng thu nhập cho người nông dân trồng chè, tăng nguồn thu quốc gia từ cây trồng này. Vậy nên hướng đi canh tác hữu cơ và phòng trừ bệnh hai bằng vi sinh đang là ưu tiên và ưu thế hàng đầu hiện nay.

Công dụng

  • Phòng trừ bệnh: Bệnh thối búp (Colletotrichum theae Petch), bệnh đốm nâu (Colletotrichum camelliae), bệnh phồng lá chè (Exobasidium vexans), bệnh sùi cành chè (Bacterium sp.), bệnh chấm xám (Pestalozia theae), bệnh tóc đen, thối rễ, và sưng rễ do một số loại nấm gây ra.
  • Phân giải chất hữu cơ, làm tăng độ mùn trong đất
  • Làm tăng khả năng miễn dịch cho cây trồng, giúp khai thác tài nguyên nông nghiệp bền vững.
  • Kích thích tăng trưởng rễ, tái tạo rễ và tăng năng suất cây trồng